Xây dựng sai phép có làm hoàn công được không?

Cập nhật: 2018-07-28 11:56:43

5/5 - 1 Bình chọn - 467 Xem
Xây dựng sai phép có làm hoàn công được không?

"Xin chào Luật sư

Cho tôi hỏi thủ tục hoàn công.

Năm 2008 tôi có mua mảnh đất 60 m2 đã có quyền sử dụng đất ở đô thị tại Biên Hòa, Đồng Nai. Đến 2011 tôi tiến hành xây dựng trên mảnh đất ấy đã có giấy phép xây dựng (1 trệt và 1 lầu, mái lợp tôn). Ban đầu tôi dự định xây 1 trệt và 1 lầu, mái lợp tôn nhưng đến khi thi công thay vì lợp tôn tôi lại đổ tấm. Nay tôi muốn làm thủ tục hoàn công, vậy Luật sư cho tôi hỏi.

1. Theo như giấy phép xây dựng thì tôi đã xây dựng sai phép. Vậy trường hợp của tôi có phải đóng phạt sai phép hay không? Và mức phạt là bao nhiêu.

2. Tôi cần phải tiến hành những bước như thế nào để hoàn công.

Xin cám ơn!"

Kính gửi Quý bạn đọc

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch và xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau:

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội trả lời:

Khoản 2 Điều 3 Nghị định 15/2013/NĐ-CP quy định: “2. Bản vẽ hoàn công là bản vẽ bộ phận công trình, công trình xây dựng hoàn thành được lập trên cơ sở bản vẽ thiết kế thi công đã được phê duyệt, trong đó thể hiện kích thước thực tế của công trình”.

Hiện nay, thủ tục hoàn công không còn là thủ tục hành chính (phải có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) như trước đây. Theo đó, không cần xin giấy phép hoàn công mà việc thực hiện thủ tục hoàn công là chuyện nội bộ giữa chủ đầu tư (chủ nhà) và đơn vị thi công. Khoản 11 Điều 25 Nghị định 15/2013/NĐ-CP quy định: “Lập bản vẽ hoàn công theo quy định” là trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng. Chủ đầu tư có trách nhiệm “Kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công” theo Điểm e Khoản 6 Điều 24 Nghị định 15/2013/NĐ-CP.

Thời điểm bạn tiến hành xây dựng là năm 2011 nên thuộc trường hợp áp dụng Nghị định 23/2009/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý, phát triển nhà và công sở. Khoản 2 Điều 3 Nghị định 23/2009/NĐ-CP quy định: “2. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện (đối với dự án đầu tư xây dựng công trình, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm kể từ ngày dự án được bàn giao, đưa vào sử dụng); quá thời hạn trên thì không bị xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định này”.

Như vậy, thời điểm hiện tại đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi thi công sai nội dung của giấy phép xây dựng

***

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn, liên hệ với luật sư Phạm Thị Bích Hảo (Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội) để được giải đáp thắc mắc chi tiết.

* Bạn đọc vui lòng gửi nội dung được ghi bằng tiếng Việt có dấu.

Trân trọng.

Chuyên mục Café Luật