Có thể bổ sung tên chồng người New Zealand vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

Cập nhật: 2018-07-18 16:53:36

5/5 - 1 Bình chọn - 22 Xem

 

Câu hỏi:

Kính gửi Luật sư

Xin tư vấn hướng dẫn tôi làm sao để bổ sung tên chồng tôi (là người New Zealand) vào sổ chủ quyền sử dụng đất và nhà chung với tôi?

Nếu không bổ sung cùng đứng tên thì tôi có thể làm giấy cam kết công nhận đây là tài sản do chồng tôi đầu tư tiền để mua đất và xây dựng nhà (chúng tôi vừa xây xong nhà vào năm 2015). Tôi chỉ muốn chứng minh cho chồng tôi yên tâm mọi quyền lợi của chồng tôi sẽ được bảo vệ công bằng cho chồng và tôi.

Chúng tôi chân thành biết ơn về sự giúp đỡ tư vấn của quý luật sư

Kính gửi Quý bạn đọc

Có thể bổ sung tên chồng người New Zealand vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

 

Café Luật – Chuyên mục hợp tác giữa Cổng thông tin và giao dịch và xin gửi đến bạn lời chào trân trọng. Theo nội dung thư bạn gửi; Căn cứ vào những quy định của pháp luật hiện hành Café Luật xin phúc đáp đến bạn như sau:

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo, Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội trả lời:

Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Theo Điều 5 Luật đất đai 2013, theo quy định trên thì người nước ngoài không được phép nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Tuy nhiên, người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 159 Luật Nhà ở.

Luật Nhà ở 2014, Điều 7. Đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này.

“Điều 159. Đối tượng được sở hữu nhà ở và hình thức sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài

1. Đối tượng tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm: a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức nước ngoài);

c) Cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua các hình thức sau đây:

a) Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ.”

Như vậy, chồng bạn là người nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định tại Khoản 1 Điều 159. Đối với cá nhân nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các giao dịch hợp đồng mua bán, thuê mua, tặng cho nhận thừa kế nhà ở nhưng tối đa không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể được gia hạn thêm theo quy định của Chính phủ nếu có nhu cầu; thời hạn sở hữu nhà ở phải được ghi rõ trong Giấy chứng nhận. Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam theo Điểm c Khoản 2 Điều 161 Luật Nhà ở 2014.

***

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn, liên hệ với luật sư Phạm Thị Bích Hảo (Công ty luật TNHH Đức An, Thanh Xuân, Hà Nội) để được giải đáp thắc mắc chi tiết.

* Bạn đọc vui lòng gửi nội dung được ghi bằng tiếng Việt có dấu.

Trân trọng.

Chuyên mục Café Luật

https://www.officesaigon.vn/van-phong-cho-thue-quan-phu-nhuan.html